Tư vấn ISO_Nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
CUNG CẤP GIẢI PHÁP
Thông tin
- Tư vấn ISO_Áp dụng công cụ chất lượng để phòng ngừa thảm họa: Bài học từ động đất, sóng thần tại Nhật Bản
- HACCP_Nhận biết thực phẩm đông lạnh tốt cho sức khỏe.
- Tư vấn ISO_Thế giới trước bài toán năng lượng.
- Tư vấn ISO_Từ cánh đồng mẫu đến xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam
- Tư vấn ISO_Kiểm soát chặt chẽ thực phẩm ngay từ khâu sản xuất
- GMP_Tiêu chuẩn mới cho cơ sở sản xuất thuốc
- GMP_Sẽ có nhiều doanh nghiệp dược phải đóng cửa
- Tư vấn ISO_ Thêm tiêu chuẩn khi xuất khẩu hàng đi EU
- Tư vấn ISO_Từ 15/4, “Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm” năm 2011 sẽ diễn ra trong toàn quốc
- Tư vấn ISO_Việt-Nhật cùng xây dựng chuẩn ISO ngành cao su
- Tư vấn ISO_Hơn 6.000 doanh nghiệp được cấp Chứng nhận ISO
- Tư vấn ISO_Đánh giá tác động của việc chứng nhận ISO 9001 tại các nước Châu Á
- Tư vấn ISO_Quy định việc chứng nhận thủy sản xuất khẩu vào EU
- Tư vấn ISO_10 nguy cơ sau chứng nhận đối với hệ thống quản lý chất lượng
- GMP_Doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất mỹ phẩm: Chạy đua với tiêu chuẩn GMP
- GMP_Lộ trình áp dụng GMP trong sản xuất thú y
- GMP_Giữ nguyên lộ trình GMP làm lợi cho cả cộng đồng
- GPP_ Xóa trắng nhà thuốc không có GPP trong năm 2011
- BẢY PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TẦM NHÌN
- ÁP DỤNG ISO 14000 ĐỂ NÂNG CAO THẾ CẠNH TRANH
- GMP_Hàng loạt nhà máy sản xuất thuốc thú y sẽ phải đóng cửa
- Tư vấn Iso_Chứng nhận chất lượng trong thương mại quốc tế.
- Iso 14000_ISO ban hành Tiêu chuẩn mới nhằm giảm thiểu các tác động đến môi trường của sản phẩm và dịch vụ
- HACCP_Vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm: Có thể bị phạt tiền tỉ.
- Iso_Đường hóa học Cyclamate độc đến đâu?
- Tư vấn Iso_Nhiều món ăn ngọt ngon nhờ đường… hóa học độc
- HACCP_Chứng nhận chất lượng trong thương mại quốc tế.
- Tư vấn ISO_Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát triển dựa vào khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại (*)
- Tư vấn GMP_Thực hành GMP Mỹ phẩm Việt Nam sẽ bị "xóa sổ"?
- GMP-Thú y_Sản xuất thuốc thú y theo tiêu chuẩn GMP
- GMP-WHO_Sản Xuất thuốc thú y kém chất lượng
- Tư vấn GMP_Sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP: Doanh nghiệp than khó
- Iso 50001_Tiêu chuẩn ISO 50001 về quản lý năng lượng.
- Tư vấn ISO_Việt Nam xây dựng thành công tiêu chuẩn Codex về nước mắm.
- Tư vấn GSP_5 điều lưu ý khi bảo quản thuốc.
- Tư vấn ISO_Điện từ bã mía: sạch & vô tận
- Iso 14001_ Đầu tư xanh sẽ lãi lớn.
- Iso là gì?_Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội cho phép những chuyên gia chất lượng dẫn dắt các tổ chức đi theo đúng hướng
- Tư vấn ISO_Xuất khẩu trái cây tăng tốc
- Tư vấn GMP_Australia và Đức giúp ĐBSCL ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tư vấn ISO_Nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, trong đó đặc biệt là năng suất lao động (NSLĐ).

Thực trạng năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
Theo số liệu đăng kí kinh doanh, hiện nay có khoảng 250.000 doanh nghiệp trong cả nước. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra tổng thể doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2003 - 2006, thì hiện chỉ có 113.352 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động trong cả nước, trong đó có 4.086 doanh nghiệp nhà nước, 105.569 doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, 3.697 doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Theo lĩnh vực kinh tế, có 2.429 doanh nghiệp trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; có 40.799 doanh nghiệp trong công nghiệp, xây dựng và có 70.124 doanh nghiệp thương mại, dịch vụ (Bảng 1).
Bảng 1. Số doanh nghiệp theo khu vực và ngành kinh tế trong cả nước
Chỉ tiêu | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 |
Tổng số doanh nghiệp | 62.908 | 72.012 | 91.755 | 113.352 |
Trong đó, chia theo khu vực: | ||||
- Doanh nghiệp nhà nước | 5.663 | 4.845 | 4.596 | 4.086 |
- Doanh nghiệp ngoài nhà nước | 55.237 | 64.526 | 84.003 | 105.569 |
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài | 2.308 | 2.641 | 3.156 | 3.697 |
Chia theo lĩnh vực: | ||||
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản | 3.379 | 2.405 | 2.369 | 2.429 |
- Công nghiệp | 23.703 | 27.915 | 34.217 | 40.799 |
- Dịch vụ | 35.826 | 41.692 | 55.169 | 70.124 |
Năng suất lao động bình quân của các doanh nghiệp tính theo doanh thu thuần giai đoạn 2000-2005 như bảng 2 dưới đây. Trong 6 năm qua, năng suất lao động bình quân của các doanh nghiệp tăng 8,7%/ năm. Nếu loại trừ tác động của yếu tố giá thì tăng trưởng năng suất bình quân của các doanh nghiệp đạt 8,4%/ năm, cao hơn nhiều so với tăng trưởng năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế (khoảng 6%/ năm).
Bảng 2. Năng suất bình quân của các doanh nghiệp, 2000 - 2005
Chỉ tiêu | Đơn vị | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 |
Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp | tỷ đồng | 809786 | 897856 | 1194902 | 1436451 | 1719401 | 2159400 |
Tổng số lao động DN | nghìn người | 3537,0 | 3933,2 | 4657,8 | 5175,1 | 5770,2 | 6243,5 |
Năng suất lao động | triệu đồng/ người | 228,9 | 228,3 | 256,5 | 277,57 | 298,0 | 345,9 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Trong các loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp liên doanh có năng suất cao nhất - năm 2005 đạt 1.357,2 triệu đồng/ lao động với mức tăng năng suất 10%/ năm, tiếp đó là các doanh nghiệp nhà nước Trung ương - đạt 473,2 triệu đồng/ lao động với mức tăng 14,2%/ năm, công ty cổ phần có vốn nhà nước đạt 380 triệu đồng/ lao động với mức tăng 18%/ năm, doanh nghiệp tư nhân đạt 360,9 triệu đồng/ lao động với mức tăng 3,7%/ năm.
Trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã tích cực đổi mới tổ chức quản lí, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao trình độ quản lí và trình độ tay nghề của người lao động cho nên đã đạt được sự tăng trưởng mạnh về năng suất lao động. Tuy nhiên, cần phải nói rằng nhìn chung năng suất lao động của các doanh nghiệp ở Việt Nam còn rất thấp. NSLĐ của doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn 2-5 lần so với các nước ASEAN. Năm 1996, năng suất lao động bình quân của Nhật Bản cao gấp 124,6 lần của Việt Nam, Thái Lan gấp 26,8 lần, Malaysia gấp 17 lần, Inđônêxia gấp 6,9 lần... Trong khi đó, chi phí về lao động trên giá trị mới của Việt Nam rất cao, bằng 47,38%, tương đương với Nhật Bản và Mỹ. Chẳng hạn, trong lĩnh vực dệt thoi, một côâng nhân Việt Nam đứng 10 máy, hiệu suất là 80%, trong khi một công nhân Đài Loan đứng 30 - 40 máy, hiệu suất 90%. Năng suất lao động trong ngành dệt của Việt Nam chỉ bằng 90% của Trung Quốc, 85% của Thái Lan.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong năng suất lao động của doanh nghiệp có nhiều, trong đó có cả những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan từ các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chưa thực sự coi tăng năng suất lao động như một yếu tố có tính quyết định đối với doanh nghiệp. Tại nhiều doanh nghiệp, còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác, ở một số doanh nghiệp khác, có nhiều hạn chế trong tổ chức quản lí, đầu tư thiết bị, công nghệ, sử dụng con người, nắm bắt thị trường...
Ngoài ra, năng suất lao động của các doanh nghiệp hạn chế còn có nguyên nhân từ môi trường kinh doanh như sự biến động mạnh về giá cả thị trường các vật tư đầu vào, việc cung ứng các đầu vào còn nhiều trở ngại, đặc biệt là lao động có trình độ. Thực tế cho thấy, cơ cấu đào tạo giữa các cấp học mất cân đối "thừa thầy, thiếu thợ". Tỷ lệ đào tạo ở nước ta hiện nay giữa đại học, cao đẳng - trung cấp chuyên nghiệp - học nghề là 10 : 9,8 : 30,3 (so với các nước là 1 : 4 : 10). Ngoài ra, các yếu tố làm hạn chế tăng doanh thu như kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đến nhiều yếu tố khác đang là những trở ngại không nhỏ.
Một số giải pháp tăng năng suất lao động của các doanh nghiệp
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp phải đối mặt với cạnh tranh găy gắt. Việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tăng năng suất lao động có ý nghĩa quyết định sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp cần phải tìm ra những giải pháp tăng năng suất phù hợp với điều kiện cụ thể của mình để áp dụng, dưới đây là một số gợi ý đê các doanh nghiệp tham khảo:
Rà soát lại từ tổ chức quản lí, tổ chức sản xuất, thiết bị, công nghệ, lao động, vật tư, nguyên liệu... đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (theo phương pháp SWOT) đối với từng khâu, từng bộ phận, từng vấn đề quan trọng trong doanh nghiệp và toàn bộ doanh nghiệp. Trên cơ sở đó để tìm biện pháp khắc phục cho từng vấn đề cụ thể, từ khâu và từng bộ phận cụ thể cũng như tổng thể doanh nghiệp.
Đổi mới tổ chức quản lí doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện hiện nay, bao gồm đổi mới hình thức doanh nghiệp, bộ máy quản lí doanh nghiệp và tổ chức sản xuất - kinh doanh trong doanh nghiệp.
Sử dụng nhân lực có hiệu quả, chú trọng từ khâu tuyển chọn, bố trí, sử dụng lao động, bảo đảm lao động có trình độ, năng lực phù hợp; đồng thời, tăng cường đào tạo và đạo tạo lại đến nâng cao trình độ, kỹ năng của người quản lí và lao động; tạo môi trường làm việc thân mật, cởi mở nhằm làm cho nhân viên gắn bó hơn với doanh nghiệp, phát huy sáng kiến, tăng khả năng làm việc theo nhóm.
Áp dụng các công cụ quản lí năng suất trong doanh nghiệp hiện đang được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp trên thế giới, trong đó có các mô hình, quy trình, hệ thống quản lí như công cụ quản lí lãng phí (7W), mô hình Kaizen của Nhật Bản (5S), hệ thống quản lí chất lượng ISO, TQM...
Chú trọng đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp, lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện, khả năng của doanh nghiệp, chú í đến tính đến yếu tố dài hạn và thân thiện với môi trường. Trong xu hướng phát triển bền vững hiện nay, các doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện "năng suất xanh" - là một chiến lược tăng năng suất gắn với bảo vệ môi trường do Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) đề xướng.
Tạo lập môi trường, bao gồm môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lí, công nghệ...điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi.
Tóm lại, năng suất lao động là một chỉ tiêu chất lượng có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Để nâng cao năng suất lao động, ngoài sự nỗ lực toàn diện trên nhiều mặt và thường xuyên liên tục của các doanh nghiệp, cần có sự hỗ trợ của Chính phủ và các cấp chính quyền theo tinh thần hướng về doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp hoạt động.
TS Trần Kim Hào - Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW
TS Nguyễn Hữu Thắng - Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia
(Theo VPC)
