Tư vấn GMP_Sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP: Doanh nghiệp than khó

CUNG CẤP GIẢI PHÁP

Thông tin

Tư vấn GMP_Sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP: Doanh nghiệp than khó

Sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP: Doanh nghiệp than khó

                                                    

Có thể nói, cùng với sự phát triển rầm rộ của nhiều trang trại chăn nuôi, tình trạng loạn mua bán thuốc thú y, thức ăn thuỷ sản cũng theo đó “nở rộ”. Thực tế hiện nay thuốc thú y chưa công bố chất lượng, không nhãn mác, chưa được phép lưu hành... vẫn được bày bán tràn lan trên thị trường. Trước tình trạng này, Cục Thú Y, Bộ NN&PTNT ra quyết định đến cuối năm 2008, các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y phải tuân theo lộ trình sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP (Thực hành sản xuất thuốc thú y tốt). Có thể nói đây là chính sách đúng để phát triển ổn định ngành chăn nuôi. Mặc dù đa phần các DN không đồng tình nhưng Cục Thú y cho rằng, nếu lộ trình GMP trong SX thuốc thú y sớm được thực hiện thì sẽ giúp cho việc quản lý thị trường thuốc thú y tốt hơn hẳn.  

Nhận xét về chất lượng thuốc thú y hiện nay, Thạc sỹ Lê Văn Sơn, GĐ Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc Thú y TƯ II cho biết, thời gian gần đây kết quả kiểm định các mẫu thuốc thú y ở phía Nam (chủ yếu là kháng sinh) phát hiện tới 20% số mẫu không đạt yêu cầu. Tuy nhiên thực tế, con số đó có thể còn lớn hơn nhiều. Tại các đại lý, Thực trạng “treo đầu dê, bán thịt chó” cũng xảy ra khá phổ biến. Cùng một loại thuốc, nhưng các chủ cửa hàng có thể chuyển thuốc thú y thành thuốc thuỷ sản, hoặc ngược lại, chỉ bằng thao tác thay đổi nhãn mác từ bao thuốc này và dán vào bất kỳ loại thuốc khác. Nếu được phát hiện, người bán hàng sẽ lấp liếm rằng đã là kháng sinh thì trị bệnh cho cá hay gà, vịt cũng hiệu quả như nhau. Thế nên, trên bao bì của rất nhiều loại thuốc thú y, hiện chỉ ghi một cách rất chung chung, dùng cho...vật nuôi. Mà trong chăn nuôi ngày nay, thiếu gì loại vật nuôi với cấu tạo cơ thể, môi trường sống rất khác nhau, do đó, thuốc dùng chung cho tất cả các vật nuôi là vô lý. Thậm chí  có nhiều loại thuốc còn đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm cũng được đem ra bày bán. Hoặc thuốc đúng nhãn mác, nhưng gian lận hàm lượng đạm, như: Gold Feed 918, hàm lượng đạm thấp hơn 3,2% so với số công bố; với nhãn hiệu én Vàng, con số này là 2,5%, Vihaco (Trà Vinh) là 28,7%...

Theo ý kiến của nhà chuyên môn nhiều loại thuốc không đạt chất lượng là do khâu giám sát nguyên liệu đầu vào gần như không được DN thực hiện. Có những DN đã mua nguồn nguyên liệu trôi nổi về sản xuất thuốc thú y. Bên cạnh đó, một số DN thay vì dùng nguyên liệu theo đăng ký thì họ lại sử dụng nguyên liệu khác có cơ chế tác dụng tương tự. Còn người chăn nuôi thường xuyên phải sử dụng những loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc chất lượng kém cũng đành chịu, vì họ chẳng biết như thế nào là chuẩn. Thường cứ thấy bị dịch bệnh là nghe mách mua thuốc nào để trừ dịch tốt thì tìm mua chứ chẳng biết nó có được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hay không.

Do hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, sự định hướng sản xuất gần như bị thả nổi nên những thương hiệu Việt Nam đã mất dần sự tín nhiệm của người chăn nuôi, mặc các thương hiệu liên doanh với nước ngoài “làm mưa làm gió” và nhanh chóng tạo dựng uy tín trên thị trường. Ông Bùi Quang Anh - Cục trưởng Cục Thú y  cho biết thời gian qua, thuốc thú y ở Việt Nam sản xuất rất chắp vá và chất lượng rất kém. Sự chênh lệch chất lượng sản phẩm giữa đơn vị có GMP và không có GMP là rất cao. Vì vậy, chúng ta cần phải chuẩn hóa các dây chuyền sản xuất theo tiêu chuẩn GMP. Những đơn vị sản xuất nhỏ lẻ, thủ công quá phải loại thải dần chứ không thể để thế này được mãi. Đây là lộ trình bắt buộc phải thực hiện, không thể thay đổi được vì trước khi gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đã cam kết như vậy rồi. Nhiều DN trong nước sẽ bị đóng cửa, nhưng không thể thiếu thuốc được. Chúng ta chỉ cần 20 - 22 công ty đạt GMP là có thể đáp ứng hết nhu cầu của người chăn nuôi.

 Để đảm bảo yêu cầu về chất lượng trong sản xuất thuốc thú y, theo Cục Thú y, việc thực hiện GMP là con đường duy nhất mà thuốc thú y Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng ngoại. Vì thế, Cục Thú y vừa có công văn gửi các DN sản xuất thuốc thú y để thông báo lại  việc thực hiện lộ trình GMP. Theo đó, hạn cuối cùng để các doanh nghiệp thực hiện tiêu chuẩn GMP đối với dây chuyền sản xuất các loại thuốc tiêm hoặc thuốc uống dạng dung dịch là vào cuối năm 2008. Các dây chuyền sản xuất các loại thuốc bột cho uống hoặc trộn thức ăn bắt buộc phải đạt GMP vào cuối năm 2010. Khi hết hạn này mà không có chứng chỉ GMP, các sản phẩm đã được phép sản xuất chỉ được lưu hành đến hết ngày 31.12.2010. Dây chuyền sản xuất thuốc bột pha tiêm và các dạng thuốc khác có hạn cuối cùng vào năm 2012, nếu không đạt được tiêu chuẩn GMP, các sản phẩm đã được phép sản xuất chỉ được lưu hành đến hết 31.12.2012. Như vậy, nếu không đạt được chứng chỉ GMP đúng hạn, các DN sản xuất thuốc thú y sẽ phải đóng cửa

Hiện, cả nước chỉ có 4 công ty sản xuất thuốc thú y đạt chuẩn mực GMP cho thuốc tiêm, gồm liên doanh BioPharmachemic, Anova (100% vốn nước ngoài), Vemedine và Minh Dũng. Tuy vậy, nhiều DN cho rằng, để thực hiện sản xuất theo GMP là rất khó vì hiện trên 90% không đạt GMP là các DN vừa và nhỏ, chưa đủ tiềm lực để phát triển nên cần tạo những lối mở cho những DN này. Hiệp hội Sản xuất kinh doanh thuốc thú y Việt Nam và tập thể các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y (bao gồm cả thú y thủy sản) vừa có kiến nghị gửi các cấp cao nhất của Nhà nước về những bất cập trong việc thực hiện lộ trình GMP. Theo tính toán của các DN để  xây dựng một nhà máy sản suất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP cần 20 tỷ đồng, 1 công ty vừa và nhỏ sẽ phải vay 10-15 tỷ đồng, với lãi xuất hiện nay là 300-400 triệu đồng /tháng mà thời gian chuẩn bị cho một nhà máy sản xuất theo tiêu chuẩn GMP cũng phải mất 3-5 năm. Thêm vào đó, nếu thuốc thú y và thú y thuỷ sản cùng thực hiện GMP thì không chỉ 80 DN phải thực hiện mà con số này sẽ tăng lên gấp đôi, theo đó sẽ có khoảng 150 DN không đủ tiêu chuẩn phải đóng cửa! Trong tình hình hiện nay, lạm phát tăng mạnh, việc vay tiền khó khăn, lãi suất cao thì những khó khăn trên càng bị nhân lên gấp bội. Việc các DN vừa và nhỏ hợp tác với nhau cũng đã từng được xúc tiến, nhưng khi bắt tay vào làm mới thấy có nhiều khó khăn không giải quyết được vì hợp tác không đơn thuần là sự cộng lại mà đòi hỏi phải có sự tương đồng nhiều thứ.

 Ngoài khó khăn về tài chính, các doanh nghiệp chưa áp dụng GMP cũng chưa biết rõ và chưa được nói cho biết về chuẩn mực hình mẫu cụ thể của mô hình nhà máy đáp ứng tiêu chuẩn GMP trong sản xuất thuốc thú y. Đa số các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y ở Việt Nam đều tự mày mò, cóp chỗ này, nhặt chỗ kia nên có đơn vị xây dựng một hạng mục lên lại dỡ bỏ vì chưa phù hợp, gây tốn kém. Để thực hiện GMP cần đội ngũ cán bộ quản lý, dược sỹ thật giỏi, công nhân lành nghề mà đội ngũ đó ở ta cũng rất hiếm, thiếu trầm trọng...

Dù tồn tại hay không tồn tại, các DN nếu muốn “sống” được trong sân chơi WTO, họ không thể đứng ngoài cuộc và việc thực hiện lộ trình GMP là tất yếu. Đối với các DN yếu, muốn tồn tại, họ phải “liều” hoặc họ phải chuyển sang làm đại lý cho các DN lớn.  

Thanh Hải